Thiếu sắt

28 November 2017
(0 votes)
Author :  

Sẽ dẫn đến thiếu máu do thiếu sắt. Thiếu sắt thường do trong bữa ăn không đủ sắt (hàm lượng sắt chứa trong các thức ăn từ động thực vật thường tương đối thấp).

Nhưng nguyên nhân chủ yếu hơn là tỉ lệ hấp thu không cao, vì các nhân tố ức chế sự hấp thu sắt trong bữa ăn nhiều hơn các nhân tố kích thích sự hấp thu sắt, mà các nhân tố ức chế lại thường tồn tại đồng thời với sắt trong thức ăn, nên rất khó dùng các cách gia công, chế biến để khử riêng các loại axit thực vật, axit oxalic, axit photphoric cacbonat, xenlulo trong các thức ăn từ thực vật như lương thực loại hạt cốc và tanin ở lá chè,... đều ức chế hấp thu sắt rất rõ. Đó đều là những nhân tố ăn uống, dẫn đến tỉ lệ phát bệnh thiếu máu do thiếu sắt tương đối cao.

 Những người có nguy cơ mắc bệnh thiếu máu do thiếu sắt cao là trẻ sơ sinh, thanh thiếu niên, phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ, phụ nữ đang mang thai, bà mẹ cho con bú và người già.

Ngoài nguyên nhân trong bữa ăn không cung cấp đủ sắt ra, còn do sự gia tăng lượng nhu cầu về sắt vì nguyên nhân sinh lí, lại càng dễ dẫn đến thiếu sắt. Một phần sắt dự trữ trong cơ thể các bà mẹ là để cung ứng cho trẻ sơ sinh đến khi đứa trẻ được 6 tháng tuổi và đã tiêu hao hết, lượng sắt có trong sữa mẹ và trong sữa bò lại không đủ, nhất là với trẻ nuôi bộ, tỉ lệ hấp thu sắt trong sữa bò rất thấp (tỉ lệ hấp thu trong sữa mẹ là 50%, trong sữa bò là 10%). Đây là nguyên nhân chủ yếu khiến cho trẻ sơ sinh rất dễ phát sinh thiếu máu do thiếu sắt. Trong thời kì phát triển ở tuổi thanh xuân, tốc độ sinh trưởng nhanh đột phát cùng với sự tăng lên về thể trọng, dung lượng máu cũng tăng lên rõ, hemoglobin cũng tăng lên một cách tương ứng. Vì thế, lượng cung cấp chất sắt cũng buộc phải tăng theo. Ở nữ thanh niên do kinh nguyệt mà lượng sắt mất đi nhiều thêm, khi lượng sắt được đưa vào trong bữa ăn không đáp ứnag được nhu cầu thì lại càng dễ dẫn đến thiếu sắt. Phụ nữ mang thai do sự phát triển sinh trưởng của thai nhi, sự to lên của nhau thai, tử cung, tuyến vú và dung lượng máu mà nhu cầu về sắt cũng tăng lên tương ứng. Thiếu sắt tuổi già thường do cơ năng tiêu hóa bị suy thoái, lượng ăn ít đi, năng lực hấp thu tiêu hóa sút kém, nên lượng hấp thu sắt cũng ít đi. Những người mắc một loại bệnh gì đó (như bệnh trĩ,...) mà bị thiếu sắt là do lượng sắt mất đi nhiều hơn ở người bình thường.

Thiếu máu do thiếu sắt là một quá trình từ từ, thường được chia làm 3 giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là thời kì lượng sắt dự trữ giảm (ID) có biểu hiện lượng sắt dự trữ trong cơ thể giảm, và nồng độ feritin (ferritin) trong huyết thanh hạ. Giai đoạn thứ hai là thời kì thiếu sắt tạo hồng cầu (IDE). Ngoài nồng độ feritin trong huyết thanh hạ thấp ra, sắt ở dạng vận chuyển cũng hạ thấp có biểu hiện sắt trong huyết thanh hạ mà lực kết hợp sắt lại lên cao, khiến cho lượng sắt tạo hồng cầu cũng không đủ,… Giai đoạn thứ ba là thời kì thiếu máu do thiếu sắt (IDA) nồng độ pophirin (porphyrin) nguyên hồng cầu tự do (FEP) lên cao, nồng độ hemoglobin và độ tích nén hồng cầu hạ.

Ở thời kì đầu, biểu hiện lâm sàng của thiếu máu do thiếu sắt không được rõ, tiến triển chậm, thường không gây chú ý. Người bị nhẹ thường chỉ được phát hiện khi có sự điều tra rộng khắp, triệu chứng thể hiện rõ phần lớn khi đã bị thiếu máu độ vừa. Biểu hiện lâm sàng có liên quan tới mức độ tiến triển của bệnh thường là thể lực kém, dễ bị mệt, ăn không ngon miệng, tinh thần ủ rũ hoặc bứt rứt không yên, chóng mặt ù tai hoa mắt trí nhớ giảm. Trẻ em thường tỏ ra kém hoạt bát, ngây độn, tập trung kém, sinh trưởng phát triển chậm, tiếp đó niêm mạc da nhợt nhạt, rõ nhất là ở môi, móng tay, niêm mạc miệng, kết mạc mắt,,.. Các biểu hiện khác còn có: teo nhú lưỡi, nghiện ăn thứ lạ (thích ăn bùn, bụi tường phấn viết bảng,...), nhịp tim nhanh, thở dốc, to tim kèm theo tiếng thổi tâm thu,... Trẻ nhỏ thường dễ bị các loại lây nhiễm, thường rất khó khỏi. Chẩn đoán thường đòi hỏi phải xét nghiệm máu bao gồm hemoglobin, tích nén hồng cầu, pophirin nguyên hồng cầu tự do feritin huyết thanh,... Tiêu chuẩn chẩn đoán là ở thời kì ID: feritin huyết thanh < 16 mg/lít, hemoglobin bình thường, ở thời kì IDE: feritin huyết thanh < 16mg/lít, pophirin nguyên hồng cầu tự do máu toàn phần > 500mg/lít, sắt trong huyết thanh < 10.74 phân tử mg/lít, hemoglobin bình thường, ở thời kì IDA: ngoài những tiêu chí trên không bình thường ra nếu hemoglobin ở trẻ dưới 7 tuổi <110g/lít, 7 - 14 tuổi < 120g/lít, nam người lớn < 130g/lít, nữ người lớn < 120g/lít, phụ nữ đang mang thai < 110g/lít thì là thiếu máu.

Việc phòng ngừa chứng thiếu máu do thiếu sắt phải được bắt đầu từ thời kì mang thai, phụ nữ mang thai mỗi ngày cần 1 - 3mg sắt, cần ăn nhiều những loại thức ăn giàu sắt. Trẻ khi mới sinh không nên cắt rốn quá sớm, như vậy sẽ giúp ích cho việc tăng thêm lượng dự trữ sắt của cơ thể trẻ sơ sinh; trong thời kì sơ sinh cần khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ, khi trẻ sinh đủ tháng được 4 tháng tuổi, cần cho ăn bổ sung những thức ăn giàu sắt và giàu axit ascorbic, đồng thời cho ăn sam một cách hợp lí. Trẻ nhỏ và các nhóm người từ tuổi thanh thiếu niên trở lên cần cố gắng ăn những loại thức ăn giàu sắt. Cách trị liệu mang tính phòng ngừa là cần bổ sung viên sắt 1mg/1kg cân nặng, uống trong 2 tháng, thiếu máu độ nhẹ sẽ đạt được hiệu quả khỏi bệnh. Nếu thiếu máu từ độ vừa trở lên, nên trị liệu bằng viên sắt.

Ngoài ra, sự hấp thu, dự trữ, vận chuyển sắt có liên quan tới riboflavin (B2), vitamin A và axit ascorbic (C) cũng có ảnh hưởng tới sự hấp thu tận dụng sắt, vì thế ngoài việc chú ý bổ sung sắt ra, còn cần phải bố trí bữa ăn cho hợp lí.

0 Comment 88 Views
Admin

Leave your comment

Make sure you enter the (*) required information where indicated. HTML code is not allowed.

Sức khỏe và đời sống

Template Settings

Theme Colors

Blue Red Green Oranges Pink

Layout

Wide Boxed Framed Rounded
Patterns for Layour: Boxed, Framed, Rounded
Top
We use cookies to improve our website. By continuing to use this website, you are giving consent to cookies being used. More details…